Digital Camera

HUYỀN THOẠI MEGAPIXEL

Huỳnh Chiếu Đẳng

huy017@juno.com

-----

 

Loạt bài về digital camera được bà con hưởng ứng khá nhiều. Có lẽ v́ hiện nay hầu hết mọi gia đ́nh ở đây đều có ít nhất một cái digital camera. Để đáp ứng những câu hỏi của quí bằng hữu tôi viết thêm bài nầy nói về huyền thoại megapixel. Cũng như tất cả các bài viết khác, tôi xin được dùng từ ngữ phổ thông không khoa bảng để ai đọc cũng hiểu, cũng như không dịch những từ ngữ chuyên môn ra tiếng Việt, xin quí bạn nhà nghề đừng cười. Bài nầy có hai phần, phần chánh là huyền thoại về megapixel, và phần phụ là huyền thoại về kiểu chụp ảnh manual. Xin bắt đầu từ chi tiết kỹ thuật căn bản.

 

1. Pixel

Pixel (Picture Element) xin hiểu là một điểm chứa data như là màu ǵ, đậm lợt cở nào… Các pixel nằm sát nhau tạo ra h́nh ảnh. Ở thí dụ trong h́nh bên cạnh mỗi đèn LED được coi là một pixel chúng phát sáng theo thứ tự nào đó sẽ tạo ra ảnh hay chữ. Ở đây các LED nằm xa nhau nên quí vị thấy từ chấm một. Nếu như người ta chế tạo những đèn LED thật nhỏ và đặt thật gần nhau th́ th́ ảnh sẽ sắc nét hơn, sẽ không c̣n thấy từ chấm khi nh́n từ một khoảng cách đủ xa (quí vị nh́n tấm h́nh có chữ Open). Hôm nào quí vị lấy cái kính loup đặt sát màn ảnh TV hay monitor xem thử coi, quí vị thấy chữ hay h́nh đều được tạo ra bằng các pixel (điểm) phát sáng. Nếu không có kính sẳn lúp, quí vị lấy 1 giọt nước rải lên mặt monotor cũng được. Nhớ là 1 giọt thôi nghe, điện và nước không ưa nhau đâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ đó chúng ta thấy rằng nếu số lượng pixel trên tấm ảnh càng nhiều th́ ảnh càng sắc nét. Do đó các máy digital camera càng về sau nầy càng cho phép chụp những tấm ảnh có số pixel cao. Ngày nay máy digital camera thông thường cho ảnh khoảng 5 megapixel . MP là chữ viết tắt của megapixel, một triệu pixel. Đa số chúng ta cho rằng con số nầy càng lớn th́ máy ảnh càng cho ảnh đẹp. Điều nầy vừa đúng vừa sai. Trong bài nầy tôi muốn nói với quí vị một vài điều về huyền thoại megapixel.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày xưa máy h́nh ghi ảnh vào film âm bản, ánh sáng xuyên qua ống kính focus vào mặt film. Ngày nay digital camera lấy ảnh vào cái chip có tên là CCD (charge-coupled device). Ánh sáng đi xuyên qua ống kính focus vào mặt CCD (h́nh bên cạnh là cái CCD của hăng Sharp 6MP). Trên mặt CCD là những “điểm” đổi ánh sáng ra tín hiệu điện và từ đó tạo ra ảnh. Chúng ta tạm coi mỗi “điểm nhạy sáng” (Light Sensitive Area) trên mặt CCD tạo ra một pixel trên mặt ảnh. Do vậy cái CCD là bộ phận rất quan trọng trong digital camera mà đa số người mua máy ảnh bỏ qua không để ư tới.

 

Trên nguyên tắc cái CCD có diện tích càng lớn càng cho ảnh ít noise và có độ nhạy ISO cao (ISO, film gọi là ASA) . Giải thích th́ dài ḍng, xin cứ nh́n tấm ảnh bên cạnh đây sẽ thấy noise. Cái áo trong h́nh chỉ có một màu duy nhất nhưng noise làm cho nó trở thành “rằn ri”. Có điều trái ngược là nếu cái diện tích của CCD sensor lớn th́ ống kính máy ảnh phải to, làm cho cái digital camera sẽ to và nặng, trong khi thị hiếu của đa số người tiêu thụ thích máy ảnh gọn và nhẹ.  Tới đây quí bạn có thể bỏ qua đoạn ngay bên dưới, mà đọc tiếp ở phần Resolution ở đoạn 2.

 

Các vị trong nghề thường lưu ư tới độ lớn của cái CCD sensor, nhưng lại lọt vô từ ngữ “bí hiểm” nên đa số cũng chịu thua, hoặc có biết nhưng vẫn chưa rơ ràng. Không tin hôm nào quí vị hỏi thử một người chụp ảnh nhà nghề hay các amateur rằng trong specification  của máy ảnh ghi CCD sensor: 1/1.8” nghĩa là sao. Tôi tin là nhiều vị không trả lời minh bạch được. Sau đây là bản trả lời cho con số vô nghĩa nói trên.

 

Compact camera CCD pixel pitch & area compared (bản 1)

CCD

Type

Pixel count

Sensor size

(mm)

Pixel pitch

Max. pixel

diện tích

1/1.8"

3.3 million

7.2 x 5.3

3.5 µm

12.3 µm²

1/1.8"

4.1 million

7.2 x 5.3

3.1 µm

9.6 µm²

1/1.8"

5.2 million

7.2 x 5.3

2.8 µm

7.8 µm²

1/1.8"

6.3 million

7.2 x 5.3

2.5 µm

6.3 µm²

2/3"

5.2 million

8.8 x 6.6

3.4 µm

11.6 µm²

2/3"

8.0 million

8.8 x 6.6

2.7 µm

7.3 µm²

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quí vị để ư các con số trong cột CCD type trong bản bên trên. Đó là những con số bí hiểm, nó được đặt tên theo xưa, lúc sensor là bóng đèn chân không. H́nh bên cạnh cho thấy vùng lấy ảnh (màu vàng)

nằm trên bóng thu h́nh (ṿng tṛn). Quí vị chớ t́m hiểu mấy con số kỳ bí nầy làm chi, chỉ cần biết sensor type 1/2.7” có kích thước là 5,27 mm x 3,96 mm . Hoặc là sensor type 4/3” có diện tích là 18 mm x 13,5 mm .

Đây là cái CCD sensor rất lớn được dùng trong cái máy Digital SLR - Lumix DMC-L1 (Panasonic) mới ra.

Sau đây là bản ghi sự liên hệ giữa type và kích thước của cái CCD sensor:

 

Sensor

Type

Aspect Ratio

Dia. (mm)

Diagonal

Width

Height

1/3.6"

4:3

7.056

5.000

4.000

3.000

1/3.2"

4:3

7.938

5.680

4.536

3.416

1/3"

4:3

8.467

6.000

4.800

3.600

1/2.7"

4:3

9.407

6.592

5.270

3.960

1/2"

4:3

12.700

8.000

6.400

4.800

1/1.8"

4:3

14.111

8.933

7.176

5.319

2/3"

4:3

16.933

11.000

8.800

6.600

1"

4:3

25.400

16.000

12.800

9.600

4/3"

4:3

33.867

22.500

18.000

13.500

APS-C

3:2

n/a

30.100

25.100

16.700

35 mm

3:2

n/a

43.300

36.000

24.000

645

4:3

n/a

69.700

56.000

41.500

 

Bây giờ tới chi tiết cần quan tâm. Quí vị thấy ở bản 1 hai cái CCD sensor cùng là 5.2 MP như nhau, nhưng cái type 1/1.8” có khoảng cách giữa hai pixel là 2.8 µm (1 micron= 1 micrometer = 1/1000000 m), c̣n cái type 2/3” có khoảng cách giửa hai pixel là 3.4 µm. Cái sensor 2/3” nầy cho ảnh ít noise hơn cái sensor 1/1.8”. Cái 2/3” có độ nhạy ISO cao hơn cái 1/1.8”. Dân nhà nghề bao giờ cũng chọn máy ảnh có sensor lớn (diện tích) và điều mong ước của họ là cái sensor có diện tích bằng với film 35mm, nghĩa là có diện tích là 36mm x 24mm, Nói thêm một số máy digital camera SLR (single lens reflex) hiện nay được gắn CCD sensor lớn cở tấm film 35mm, và body của nó có thể gắn ống kính của máy chụp film 35 mm ngày trước. Đó là điều mấy vị nhà nghề ham thích, v́ quí vị đó có thể dùng tới các ống kính sắm từ vài ba chục năm trước. Chắc quí bạn tay ngang đọc đoạn nói về CCD nầy chỉ hiểu lơm bơm thôi, đáng lẽ tôi bỏ nó ra ngoài. Nhưng quí bạn nhà nghề có khi rất quan tâm tới chúng, do vậy tôi viết rơ về con số type vô nghĩa và bí hiểm ra đây luôn.

 

2. Resolution. (Linear Resolution) Có ba phần khác nhau:

 

a. Image Resolution

Đây là con số đo coi trong tấm ảnh digital có được bao nhiêu pixel. Thí dụ digital camera 3,2 megapixelchụp được tấm ảnh ngang 2048 pixel và cao 1536 pixel. Bản bên dưới cho thấy sự liên hệ giữa digital image resolution và megapixel của máy ảnh.

 

Máy ảnh:

7 MP:

3072 x 2304 pixels

5 MP

2592 x 1944 pixels

3.2 MP

2048 x 1536 pixels

2 MP

1600 x 1200 pixels

0.3 MP

640 x 480 pixels

 

 

Chúng ta cứ nghĩ rằng cái máy ảnh 7MP rất tốt so với cái máy 5MP chớ ǵ. Không phải vậy đâu v́ số pixel theo chiều ngang của máy 7MP chỉ hơn số pixel theo chiều ngang của máy 5MP có 480 pixel mà thôi (3072-2592=480). Con số nầy quả thật không đáng kể. Và câu hỏi đặt ra kế tiếp là chúng ta có cần tới máy 7 MP hay 8MP không? Sẽ trả lời quí vị dần dần về sau.

 

b. Print Resolution:

Hầu hết các printer đều in ảnh với resolution là 200-300 pixel/inch,  tức là 300 PPI (c̣n gọi là dpi=dots per inch). Nghĩa là đa số máy in chỉ in được 300 pixel trên 1 inch chiều dài. Qúi vị đọc tới đây phản đối liền là sao các máy printer Epson Stylus Photo R1800 quảng cáo là in được tới 5760 dpi. Đó là hăng máy in gạt người tiêu thụ. Thật ra th́ các nozzle của máy inkjet printer có khả năng đặt 5760 giọt mực tí ti lên chiều dài 1 inch của trang giấy, nhưng trong thực tế các giọt mực tí ti nầy nằm đè lên nhau.  Khả năng hiện giờ của các máy printer chỉ cho được 300 pixel trên 1 inch chiều dài mà thôi. Trong thực tế người ta cũng không cần con số lớn hơn 300dpi, v́ tấm ảnh in cở nầy sắc sảo rơ nét vô cùng. Chắc quí vị lấy làm lạ lắm, xin thưa cái Canon SELPHY Compact Photo Printer CP510 (nhóm dye diffusion printer, khác kỹ thuật inkjet printer) in được tối đa 300 dpi chớ mấy, vậy mà tấm ảnh in ra đâu chê được chỗ nào.

 

Vậy th́ máy ảnh 3.2MP có khả năng in được tấm ảnh ra giấy bao lớn. Tính như thế nầy lấy số 2048 chia số 300 được gần bằng 7 inch. Vậy với máy 3.2 MP chúng ta có thể in ra giấy được tấm ảnh photo quality 5”x7”. Tôi hỏi quí vị có khi nào in tất cả ảnh digital ra giấy cở 5”x7” hết không. Câu trả lời là không, đa số chỉ in ra 4”x6” hoặc chỉ coi trên computer hay trên TV thôi. Vậy th́ với đa số chúng ta có nên mua máy ảnh lớn hơn 3.2 MP không. Sẽ trả lời bên dưới.

 

c. Screen Resolution:

Hầu hết các computer screens ngày nay đều hiện h́nh với lineare resolution là 96 dpi. Thông thường cách nay hai năm màn ảnh computer thường được set là 800 x 600 (tức là 0, 48MP). Do đó máy digital camera nào chụp hơn 0,48MP đều trở thành dư thừa đối với h́nh display trên computer. Ngày nay với màn ảnh LCD có khi quí vị set 1280 x 1024 ( =1,3MP). Vậy th́ digital camera 2 MP đă quá dư để cho h́nh display trên màn ảnh computer. Ngày nay có mấy ai mua hay bán máy h́nh 2MP đâu, toàn là 5MP, 6MP, 7MP… và tương lai sẽ 100MP (tôi nói đùa thôi).

 

3. Kết Luận

 

Vậy th́ quí bạn hỏi kết luận bài nầy ra sao? Thưa quí bạn là cái gọi là megapixel được người tiêu thụ quan trọng hoá. Các hăng sản xuất digital camera cũng từ đó mà tranh đua nhau tăng số megapixel lên để câu khách. Qúi bạn có thấy hiện giờ thiếu chi máy 5MP và 6MP bán trên dưới $150, trong khi đó cũng có máy 3,2MP bán tới $300 và máy 5MP bán tới $500, có khi nào quí bạn thắc mắc tại sao như vậy không?

 

Ở phần trên tôi đă tŕnh bày cùng quí vị về lư thuyết và sau đó là thực tế trên h́nh in ra giấy, trên h́nh display trên màn ảnh computer,  trên TV (TV và computer screen có resolution tương tợ nhau). Tất cả đều cho thấy chúng ta ít khi cần tới máy ảnh lớn hơn 3,2MP. Nhưng nếu quí bạn hỏi tôi nên mua máy cở nào, xin thưa rằng cở 5 megapixel th́ vừa, lư do là có khi quí bạn cần in ra 8”x10” hay có khi crop bớt phần dư thừa trên ảnh. Dĩ nhiên nếu quí bạn dư tiền th́ mua máy digital camera có số megapixel cao hơn nhiều cũng chẳng hại chi.

 

Xin đừng mặc cảm khi xách cái máy 3,2 MP hoặc 2MP đi vào đám đông, vào lớp nhiếp ảnh. Quí bạn đừng có “tự ái” khi khi thấy đa số bà con chung quanh mang cái máy digital camera “xịn” từ 7MP đổ lên.  Máy digital camera c̣n nhiều đặc tính khác quan trọng hơn là cái gọi là megapixel. Đúng vậy chụp ảnh có hai phần: thứ nhất là kỹ thuật và thứ hai là mỹ thuật. Máy ảnh “xịn” không hẳn cho ảnh đẹp, cũng như giàn máy hát nhạc “xịn” chưa chắc phát ra âm thanh đáng nghe dưới tay người vặn nút lung tung. Và tấm h́nh chụp toàn hảo về kỹ thuật chưa chắc là tấm ảnh đẹp.

 

Nhân nói về nhạc tôi nhớ tới mấy tay “bảo hoàng hơn vua” chê các amplifier ngày nay (solid-state) phát ra âm thanh thua amplifier chạy bóng điện tử của 50 năm trước, cũng như cho là các CD (digital compact disc) ngày nay phát nhạc thua xa dĩa 33 tours hay 45 tours ngày trước. Trong lănh vực nhiếp ảnh cũng vậy. Mấy tay bảo thủ quá đáng cũng khăng khăng cho rằng máy digital camera ngày nay chụp ảnh thua xa máy film thời trước. Nếu quí vị hỏi, tôi xin đáp rằng máy digital camera ngày nay cho ảnh ăn đứt các máy chụp film về kỹ thuật như là màu sắc, độ mịn, độ trong của tấm ảnh. Digital camera hiện giờ đă bỏ xa máy film 35mm và có khi đă qua mặt máy chụp loại film lớn như 6x6 hay 6x9 nữa. Đọc tới đây thiếu chi người chơi ảnh phản đối. Nhưng trong nhu cầu thực tế của xă hội, máy chụp film đă là lịch sử rồi. Lư do là v́ máy chụp film thua máy digital camera mọi mặt từ tiện dụng cho tới kỹ thuật. Không tin tôi quí bạn mở các tấm ảnh cũ của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng xưa nay chụp bằng máy ảnh xuất sắc nhất thời trước như Leica, Nikon, Rollei … so với mấy tấm ảnh chụp bằng máy digital camera của một người tay mơ xem thử coi về kỹ thuật ai hơn ai là biết liền. Khoan, quí vị bảo thủ chớ la làng,  mở thử các tạp chí về photography ngày nay ra đọc đi, coi thử các chuyên viên thượng thặng nói sao. Hôm nào có hứng tôi sẽ viết về Huyền Thoại Máy Ảnh Chụp Film.

 

4. Huyền Thoại “Manual”

 

Tôi định viết riêng một bài về “Huyền Thoại Manual”, nhưng như vậy sẽ loăng đi và mất hay, xin được nối tiếp ở đây một phần nhỏ, để chọc các vị nhiếp ảnh gia bảo thủ quá đáng chơi. Nhớ lại ngày xưa máy ảnh hoàn toàn “trơ trụi”, nhiếp ảnh gia phải tự ḿnh lấy khẩu độ (cho ánh sáng vào nhiều hay ít), lấy vận tốc nhảy (cho ăn với khẩu độ, hay ngược lại), xong lấy thước cho ảnh sắc nét hay nhoè đi theo nhu cầu. Đây là lối chụp h́nh mà trong nghề ảnh gọi là chụp manual 100%. Thời nầy muốn chụp automatic cũng chẳng được và do đó vị nào chụp tấm ảnh in ra coi được th́ tự hào lắm rồi. Đa số tay ngang chụp ra tấm ảnh đen thui hay trắng bạch. Ngày nay trẻ con 4 tuổi cầm cái digital camera bấm đại, ảnh cũng hơn hẳn ảnh manual ngày xưa.

 

Sau đó khoa học tiến bộ, máy ảnh được gắn thêm cái quang kế (đồng hồ đo ánh sáng) để giúp người ảnh đở vất vả đoán chừng độ sáng.  Cùng lúc máy ảnh trang bị thêm cái telemeter (đo khoảng cách) để giúp người ảnh khỏi đoán chừng khoảng cách từ người mẫu tới mặt film. Lúc đó đồng hồ chỉ cho biết các thông số nầy thôi. C̣n “vặn máy” phải do con người làm. Cho tới bây giờ digital camera dựa vào các thông số đo được tự set máy ảnh. Nó đă giải phóng con người khỏi lệ thuộc vào những thứ vô ích. Người ảnh được tự do lấy góc, lấy khung cho đẹp và bấm máy đúng lúc mà thôi. Dễ như vậy mà đa số quí vị tay ngang bấm cũng không đúng luôn: quí vị quên rằng nút bấm của máy ảnh có hai bực, phải bấm xuống nửa chừng giữ đó tí xíu mới bấm tiếp. Đa số “bấm cái cụp”, đến máy cũng chịu thua.  Cái nút bấm nhỏ nầy coi vậy mà rắc rối. Xin nhắc lại: bấm xuống nửa chừng để máy ảnh kịp lấy thước, lấy ánh sáng, bấm xuống hết để lấy ảnh, c̣n như bấm và giữ tay lại th́ tuỳ, nó có thể là giữ tấm ảnh vừa chụp trên LCD để quí vị nh́n lại, hoặc nó cũng có thể là lịnh chụp một hơi mươi tấm ảnh liên tục cho tới khi quí vị buông tay ra.

 

Xin trở lại, chắc có bạn từng nghe vài vị nhiếp ảnh gia bảo thủ chê máy ảnh automatic ngày nay. Họ cho rằng chỉ có chụp manual hoàn toàn mới lấy được ảnh đẹp. Thấy ai vặn máy lại chữ A (automatic) hay bất cứ chữ ǵ khác hơn chữ M (manual) là họ cho là tay mơ. Mà cũng đúng đa số độc giả cũng như tôi đều là tay mơ, đâu đoán nổi độ sáng, đâu đoán nổi khoảng cách chính xác bằng mắt trần. Xin hỏi quí độc giả vậy chớ ngày nay quí bạn có thấy siêu thị nào dùng bàn toán Tàu, hay cây viết chấm mực ng̣i lá tre để cộng tiền cho khách hàng khi ra cửa không? Chắc là không. Nhưng thưa quí vị ngày nay c̣n những người bào thủ như vậy trong làng chơi ảnh. Đó là những người “dị ứng automatic”. Tôi ngạc nhiên khi thấy quí vị bảo thủ chê món automatic hay program mà lại dùng đèn flash thay v́ dùng bột magnesium đổ vô tờ giấy rồi châm lửa như một trăm năm trước.

 

Những vị nầy cho rằng phải chụp manual 100% mới được ảnh đẹp. cho rằng rằng cặp mắt ḿnh đoán được độ sáng nhạy hơn quang kế hay đoán khoảng cách hay hơn các máy đo laser hoặc siêu âm. Theo ư kiến một người bạn chơi ảnh từ khi 10 tuổi tới bạc đầu th́ những vị bảo thủ quá mức nầy muốn t́m con đường khó khăn để đi, rồi tự hào rằng chỉ có họ mới làm được chuyện khó khăn như vậy. Quí vị bảo thủ “dị ứng” đến cái độ tưởng rằng cách chụp theo program (semi-automatic) không thể lấy ảnh một coureur xe đạp sao cho xe và người rơ, c̣n cảnh vật bên đường nhoè v́ vận tốc cao. Quí vị đó tưởng rằng không thể nào dùng program để chụp cho gương mặt người mẫu sắc nét bên cạnh cành hoa mờ nhạt đi, tưởng rằng không thể dùng program để chụp rơ mặt người mẫu đứng trái sáng, mặt trời chiếu sau lưng, tưởng rằng không thể dùng program để chụp đứng được cảnh thủ quân nhào tới chụp banh nhanh như chóp, c̣n nữa… Thưa các bạn ở tất cả những t́nh huống nầy, chúng ta đều chụp theo program dễ dàng và nhanh trong nháy mắt. Trong các điều kiện nầy quí vị manual c̣n rị mọ đoán khoảng cách, đoán độ sáng, tính toán vận tốc, rồi rị mọ vặn hết nút nầy tới nút nọ, đến khi bấm máy ảnh th́ nụ cười người mẫu đă hết tươi. Thiếu chi lần quí vị nầy chụp cảnh vật, đoán già đoán non ánh sáng, set máy xong th́ môt cụm mây chợt bay qua che khuất ánh mặt trời, thế là rị mọ set lại.

 

Tôi tin rằng quí vị “dị ứng automatic” không biết rằng ngày nay một số máy ảnh chụp một lần năm ba tấm ảnh, xong nó tính toán coi tấm nào đúng nhất dựa theo histogram, dựa theo độ sắc nét và dựa theo nhiều thông số khác và chỉ save vào memory tấm ảnh đúng nhất mà thôi. Qúi vị nầy cũng không biết rằng có những máy digital camera ngày nay có trí khôn. Đưa máy lên trước một cảnh vật, máy ảnh sẽ dựa vào các chi tiết trong cảnh mà biết rằng chúng ta định chụp cái ǵ (thí dụ như portrait, chụp nhóm người, chụp phong cảnh, chụp một cành hoa, môt cánh bướm. một cảnh đêm trăng...) để rồi nó dựa vào program chứa sẳn trong memory mà set máy tối ưu theo từng hoàn cảnh.

 

Xin mở ngoặc nhắc bạn đọc tay ngang là cái máy ảnh b́nh thường nhất cũng có sẳn năm bảy cái program do nhà chế tạo set trước: thí dụ quí vị vặn nút qua chỗ có h́nh ḥn núi, máy ảnh sẽ set khẩu độ nhỏ tối đa để cho cảnh vật rơ nét từ trước mặt quí bạn cho tới chân trời. Thí dụ quí bạn vặn nút lại h́nh cái mặt người th́ máy ảnh biết quí bạn định chụp portrait, nó set máy cho khẩu độ lớn tối đa để mặt người th́ rơ nét và đúng sáng, c̣n cảnh vật chung quanh th́ nhoè đi (mà cũng có thể rơ hết nếu muốn). Thí dụ quí bạn vặn nút lại chỗ h́nh người đang chạy máy ảnh sẻ tự set sao cho ảnh vận động viên rơ nét dầu đang chạy thật nhanh (hoặc nhoè đi để biểu lộ vận tốc)…Máy nào cũng có năm ba cái program set sẳn với máy mắc tiền có khi lên tới vài chục cái để giúp cho người ảnh khỏi phải lo đến những chi tiết kỹ thuật. Xin quí vị bảo thủ cực kỳ chớ giận, hôm nào quí vị dùng cái máy ảnh “xịn” của quí vị chụp manual 100% cảnh vật dưới ánh trăng rằm rồi so tấm ảnh đó với tấm ảnh của một tay mơ chụp bằng cái digital camera rẻ tiền coi ai hơn ai, ai chụp nhanh hơn ai. Câu trả lời quí vị biết rồi phải không.

 

Mà thôi, mục đích của hai kiểu chụp ảnh semi-automatic (program) hoặc manual cũng chỉ để thu được tấm ảnh đẹp mà thôi. Cả hai trường phái đều chụp được ảnh đẹp. Cũng tỷ như mục tiêu của chúng ta là đi về thăm quê hương, nhưng một người th́ nhất định đi tàu buồm chớ không ưa ngồi máy bay, c̣n một người th́ thích đi máy bay mà chê tàu buồm. Theo tôi phần khá quan trọng trong nghề chơi ảnh là bấm máy đúng lúc, nếu cứ bận tâm vào việc tính toán để set manual th́ phần bố cục  bị xao lăng phần nào, mà thời cơ bấm máy cũng có khi qua đi. Sao bằng “bấm cái rột” máy digital camera chụp năm bảy tấm ảnh liên tục, về nhà chọn ra tấm đầu tiên lúc nụ cười người mẫu mới chớm cho tới tấm chót nụ cười vừa tàn, coi tấm nào đẹp nhất th́ lấy. Nếu cứ chĩa máy vô mặt người mẫu mà tính tính toán toán, về xem lại h́nh chụp, thấy mặt người mẫu sượng trân.  Lối chụp liên thanh thường được các nhiếp ảnh gia dùng để lấy ảnh cho các hăng quảng cáo. Người mẫu đứng trên băi biển vừa quay người cho tà áo bay theo gió là người ảnh giữ nút bấm, cái digital camera lấy một hơi mươi tấm ảnh liên tục, đem về lựa tấm nào bay bướm nhất th́ chọn. Th́ giờ là tiền bạc mà. Ủa, chụp ảnh kiểu nầy th́ làm sao gọi là chụp kiểu manual 100% cho được, mà đă không chụp manual 100% th́ làm sao có được ảnh đẹp. Để quí bạn độc giả trả lời. Huỳnh chiếu Đẳng (26-Feb-2006)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Make your own free website on Tripod.com