CỔ NHẠC VÀ TÔI

Huỳnh Chiếu Đẳng

 

 

Kính thưa quí vị, tôi xin mượn bức thơ nầy để đưa quí vị về những ngày thơ mộng của tuổi niên thiếu, đưa quí vị về những năm tháng thanh b́nh khói chiến chinh chưa lan tràn trên đất nước và mang đến cho quí vị những giây phút chạnh ḷng nhớ nhung tới những “ngày vàng son thuở ấy” mà nay đă ngàn trùng xa cách. HCĐ.

 

Kính gởi chị Châu,

 

Không ngờ chị cũng thích bài ca vọng cổ “Thoại Ba Công Chúa”. Đó là một trong những bài tôi thích. Tác giả bài ca nầy có lẽ là người sống ở thế hệ trước viết ra cho nên dùng nhiều câu thơ cổ rất hay, văn chương rất đúng mực. Tôi có rất nhiều tuồng tích xưa nay, do vậy t́m nhặt những bông hoa hương sắc trong trong một cánh đồng hoang dại như vậy rất khó. Nghĩ đến những người đồng điệu nên tôi hái vài chùm hoa nhỏ làm thành “tác phẩm” CD “Ngày Tháng Cũ” gởi đến các bằng hữu gọi là chút quà Giáng Sinh và mừng năm mới.

 

Tôi có duyên với cổ nhạc miền nam từ khi rất nhỏ, lúc c̣n ở làng quê hẻo lánh (làng Long Hựu, G̣ Công). Thời đó thỉnh thoảng vào những đêm trăng, người lớn hay họp nhau lại trước sân một căn nhà nào đó đàn ca tài tử. Ban ngày họ là một nông dân chơn chất, ban đêm họ là một Đơn Hùng Tín oai hùng nghĩa khí, thà chết chớ không đầu giặc, là một Quan Vân Trường ân oán phân minh đă tha cho Tào A Mang nơi Huê Dung đạo, cam trở về chịu chết v́ tờ cam doan trạng kư kết với Gia Các quân sư. Họ cũng có thể là một Đường Huyền Tôn đa t́nh thương nhớ Dương quí phi, hay một Hạng Vơ oai hùng nhưng bi lụy từ biệt Ngu Cơ nơi miền Cai Hạ. Chị cứ tưởng tượng ba bốn tài tử ôm đàn thay nhau ca hát trước mấy chục khán giả già trẻ dưới đêm trăng thanh gió mát th́ sẽ thấy cái không khí thơ mộng và lôi cuốn của cổ nhạc như thế nào. Xin chị chớ cho là những nhân vật những địa danh trên là xa lạ là ngoại lai v́ người nghe đâu màng tới ranh giới quốc gia mà chỉ chú tâm tới cái thơ mộng tới t́nh người, tới cái phi thường ít người dám sánh. Cũng y như mấy câu thơ sao đây trong Chinh Phụ Ngâm :

Hà Lương chia rẽ đường này,

Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi

Quân trước đă gần ngoài doanh Liễu

Kỵ sau c̣n khuất nẻo Tràng Dương

những địa danh ở đây h́nh như tạo được cái thơ mộng trong trí tưởng tượng bay bổng của mỗi người.

 

Tôi có duyên với cỗ nhạc miền nam là v́ ba tôi là người thợ duy nhất sửa "hát máy" cho dân chúng trong rất nhiều làng mạc chung quanh. Tôi là người mài kim hát máy mướn (mài bằng máy do ba tôi sáng chế), tuy tôi mới chừng năm sáu tuổi. Ngày xưa kim hát máy đắt tiền, khi hát vài mặt dĩa nó cùn đi, người ta mài nhọn lại xài tiếp thay v́ mua kim mới. Một hộp kim 100 cây với đứa bé năm sáu tuổi mài cho xong cũng phải bền chí lắm. Lúc đó đâu có dĩa hát "đập bồn đập bát" tân nhạc, chỉ có dĩa cổ nhạc thôi. Không biết chị Châu c̣n nhớ tới loại dĩa “đá” to dầy và nặng bằng cái dĩa bàn lớn không? Loại dĩa đó h́nh như chỉ ghi các tuồng hát bộ miền Trung thôi. Sau đó th́ có thêm loại dĩa hát ghi tuồng cải lương, ca vọng cổ cũng dầy và nặng, nhưng không to bằng dĩa “đá”. Tôi c̣n nhớ hai hảng dĩa ai cũng biết vào lúc đó là “A Xê A” (Asia) và “Pa Kê” (Pakelite), c̣n máy hát đều mang hiệu “Cô Lum Gia” (Columbia), “con chó ngồi bên cái loa”, cho nên ba tôi được người ta gọi cho cái tên là ông “ba Cô Lum Gia”. Sang qua dĩa hát tân nhạc th́ đa số mỏng và nhẹ như dĩa hát 33 hay 45 ngày nay. Sau đó gia đ́nh tôi “chạy giặc” lên Mytho th́ ba tôi cũng gần như là người thợ duy nhất sửa hát máy, sửa máy “pic cúp” (máy hát dĩa chạy điện) ở tiệm HongKong Store tại Mytho, và ba tôi cũng là một trong vài người bán dĩa hát tại Mytho, tôi là người “hát” thử cho khách nghe trước khi mua, máy hát chớ tôi không biết hát đâu, v́ vậy nên biết tuồng tích khá nhiều.

 

Trong tất cả các tuồng tích cải lương nghe qua, tôi thích nhất là bộ 4 dĩa mang tên “Hoa Rơi Cửa Phật” mà tài tử chánh nếu tôi nhớ không lầm là Tám Thưa và Cô Tư Sạn. Văn chương thật là đúng mực mà tài tử diễn xuất cũng xuất thần. Tới bây giờ tôi c̣n nhớ câu vô vọng cổ khi Điệp lạy tạ sư Ông cho phép ḿnh giả dạng vào nghe Lan tâm sự trước phút lâm chung : “…ngài ôi! xin ngài chớ quá bận tâm mà bần tăng thêm tổn đức, ngài hăy để lạy nầy mà lạy Phật th́ phải hơn, tâm sự đôi bên bần tăng chưa hiểu hết, nhưng chẳng may đạo Huệ Minh tánh mạng khó bảo toàn.” Tôi đang cố t́m lại bộ dĩa nầy, chắc là không gặp được, qua bao lần bom đạn, mấy ai biết tiếc ngọc thương vàng. Hiện giờ người ta cũng tŕnh diễn lại tuồng Hoa Rơi Cửa Phật nhưng lời lẽ thô kịch chẳng đáng nghe chút nào. Tại tôi hoài cổ hay tại con cháu ngày nay chẳng qua nổi ông cha?

 

Có người cho cải lương là sướt mướt là ủy mị, điều đó đúng mà sai. Theo tôi buổi đầu các bài bản cổ nhạc thường do người có học, các ông đồ viết ra, văn chương rất phong phú, và lời lẽ đẹp như một bài thơ. Nhiều người không thấy là v́ có cái định kiến sẵn trong đầu không nghe kỷ mà thôi. Như bài ca “Thoại Ba công chúa” ít có thầy tuồng ngày nay viết nổi. Mấy bài ca vọng cổ gần đây như bản “T́nh Anh Bán Chiếu”, bản ruột của danh ca Út Trà Ôn, tuy không văn chương như xưa nhưng cũng tạo được cái thơ mộng của bài Đường thơ " Nhân diện bất tri hà xứ khứ. Đào hoa y cựu tiếu đông phong". Cổ nhạc chỉ có vài bài bản thôi như Vọng Cổ, Trường Tương Tư, Văn thiên Tường, Nam ai, Tứ đai oán, Khóc Hoàng Thiên, Xàng Xê... nhưng lời ca th́ thật là đa dạng phong phú. Lúc nhỏ cậu năm tôi dạy tôi đờn c̣ mấy bản nầy, nhưng ba tôi sợ tôi mê nên không cho dạy tiếp. Số bài bản cổ nhạc giới hạn, nhưng lại hay ở chỗ cho phép người ta diễn tả tâm tư t́nh cảm thật là đậm đà dễ làm người xúc động. Ngày nay tân nhạc đâu làm được chuyện nầy, bất quá chỉ "tôi kể người nghe chuyện t́nh Lan va Điệp..." nghe đâu xúc động bằng tuồng Hoa Rơi Cửa Phật. Bây giờ vài nhạc sĩ tân nhạc bắt chước kiểu cổ nhạc như bản "Tím cả hoàng hôn", hay bản "...trưa rồi dậy đi thôi, đi mua đồ về nấu canh chua cho ba mầy có bữa cơm trưa..." tuy diễn tả cùng tâm trạng nghe buồn cười chớ đâu xúc động như bài ca "Dạ Khúc Hoài Lang nhịp hai" hay "Thoại Ba Công Chúa". Cổ nhạc miền nam là một bộ môn nghệ thuật rất đặc biệt chứa chan t́nh người với lời ca tiếng hát y như một bài thơ. Theo tôi hát bộ hay chèo cổ hoặc tân nhạc không có được đặc tính nầy, nên không đi sâu được vào ḷng người thưởng ngoạn, nhưng người ta vẫn thưởng thức chúng v́ cốt chuyện, v́ có c̣n hơn không chớ không v́ văn chương. Nói hát bộ không văn chương không đúng, nhưng mà cách phô diễn ước lệ bóp chết văn chương đi, chèo cổ th́ giọng hát quá cao, quá kiểu cách không làm người nghe xúc động (đây chỉ là ư thích cá nhân thôi, xin quí vị chớ động ḷng).

 

Tôi thích cổ nhạc v́ nó nuôi dưỡng nâng đở tâm hồn dân quê qua nhiều tang thương dâu biển. Tôi là dân ruộng, tôi biết nó tạo cho người dân (thôn quê) tinh thần đạo đức, cho người dân sức mạnh tinh thần để vượt qua khổ năo của kiếp nhân sinh. Chị không thể t́m được một tuồng tích, một bài ca cổ nhạc đề cao người gian ác điêu ngoa. Qua bao khổ nạn oan ức, người ngay bao giờ cũng thắng. Thầy tuồng ngày xưa theo phương châm "văn dĩ tải đạo".

 

Mặt khác cổ nhạc tạo ra thơ và mộng. Buổi đầu lên Mytho tôi “trôi dạt” cùng hết, nhớ những đêm nằm ngủ nhờ trong tiệm may Tân Dân cách nhà thuốc tây Ông Phan vài căn (nằm bên nầy Vườn Hoa Lạc Hồng, lúc đó vườn hoa c̣n là ga xe lửa Mytho). Đêm khuya vắng lặng, vừa tỉnh giấc mơ màng nghe tiếng hát máy xa xa vọng lại từ con đ̣ neo giữa sông Cửu Long th́ không có ǵ thơ mộng cho bằng, hay lạ hay lùng, “văn chương cỡ tôi” mà cũng không thể diễn tả nổi, hay đến nỗi ngày nay tôi vẫn c̣n nhớ.

 

Khi về ở khu chợ cá Mytho, trên nhà sàn sát bờ sông, tôi thường đi theo các bạn lang thang về vùng ngoại ô bức các loại dây leo cho các gánh hát diễn tại rạp Thầy Năm Tú để được cho vào coi hát miễn phí. Ban ngày sân khấu, dây leo chẳng ra cái chi cả, nhưng khi mở màn lên, dưới ánh đèn màu th́ quả thật là cả một khung trời thơ mộng, nó có thể là một lâu đài tráng lệ đầy hoa cỏ xinh tươi với nàng Tây Thi ngồi mơ màng tưởng nhớ ngày gặp Phạm Lăi ở Trữ La Thôn, có thể là một bờ sông đ́u hiu nơi Hạng Vỏ tự cắt đầu tặng cho ông lái đ̣, hay có thể là bán lộ hoang vắng nơi mà  Lục Vân Tiên nhổ gốc cây đánh hạ tướng cướp Phong Lai giải cứu Kiều Nguyệt Nga. Ngồi trên cánh gà ở tầng lầu, trên bệ cửa sổ vừa ngắm cảnh trí huy hoàng của sân khấu vừa nh́n ra bầu trời đầy sao đêm bên ngoài, th́ thế giới thơ mộng của tôi thật là bao la diễm ảo. Nhớ lần đầu vào coi hát miễn phí nhờ đống b́m b́m vừa mới bức, quên nói với ba má tôi, làm cả nhà đi t́m tở mở (nhà sàn cất trên bờ sông, mà tôi c̣n nhỏ nửa). Khi tôi về cả nhà mừng quá chỉ rầy sơ rồi thôi, bây giờ mới biết được tấm ḷng cha mẹ.

 

Ngày nay, hàng tuần chạy xe ban đêm mở máy hát một tồng tích ưng ư th́ khung trời thơ mộng ngày xưa lại hiện về giúp quên đi con đường dài thăm thẳm. Đồi núi tăm tối mịt mùng chung quanh được thay bằng cảnh hoàng hôn nơi bờ suối vắng nơi mà Lệnh Hồ Xung bị thương ngồi dựa nàng Doanh Doanh lén nh́n mặt người ngọc phản chiếu trên ḍng nước êm đềm, để mà mơ màng đếm sao trời, coi v́ sao nào đă giáng trần biến thành người đẹp. Chị thấy chưa, tân nhạc cũng hay, nhưng đâu thể diễn tả được như vậy. Nhớ có lần chạy xe trong đêm tuyết xuống, cảnh vật ảm đạm tối tăm, nghe Vũ Khanh ca bài “Đưa Em T́m Động Hoa Vàng” thấy cũng hợp cũng hay nhưng đâu thơ mộng bằng cảnh Lư tướng quân buổi chiều ngoài biên ải đứng nh́n bụi cuốn nẻo đường xa mà tưởng đâu Hoa Mộc Lan nhớ người chiến hữu phi ngựa trở lại thăm.

 

Đây là chút tâm sự nhỏ về “cổ nhạc và tôi”. C̣n nhiều thứ để nói nhưng xin dừng lại nơi đây. (January 07, 2003)                                                 

Huỳnh Chiếu Đẳng  

(huy017@juno.com)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Make your own free website on Tripod.com